Hòa giải
ở cơ sở có những đặc điểm chung của công tác hòa giải gồm:
Là một
phương thức giải quyết tranh chấp giữa các bên theo quy định của pháp luật về
hòa giải.
Là sự thỏa
thuận ý chí, thể hiện quyền tự định đoạt của các bên mâu thuẫn, tranh chấp. Nói
cách khác, chủ thể trong quan hệ hòa giải phải chính là các bên mâu thuẫn,
tranh chấp. Kết quả hòa giải thành hay không thành hoàn toàn phụ thuộc vào ý
chí chủ quan của các bên tranh chấp có tìm ra được giải pháp giải quyết tranh
chấp không.
Các bên
tranh chấp cần đến một bên thứ ba làm trung gian hòa giải, giúp họ đạt được thỏa
thuận, tìm ra được hướng giải quyết tranh chấp, chấm dứt bất đồng, xung đột.
Bên thứ ba chính là hòa giải viên, có vai trò trung lập và độc lập với các bên
tranh chấp.
Nội
dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên tranh chấp không được trái với quy định
của pháp luật, phải phù hợp đạo đức xã hội, không xâm phạm lợi ích hoặc nhằm trốn
tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba. Dù thỏa thuận hòa giải thể hiện
ý chí tự nguyện của các bên tranh chấp, nhưng nếu thỏa thuận đó vi phạm điều cấm
của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì không được công nhận.
Vai trò của hòa giải ở
cơ sở Hòa giải ở cơ sở có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, có thể nói
đây là một phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả, thể hiện trên những mặt
sau:
Là một
phương thức giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn, vi phạm pháp luật.
Góp phần giữ gìn, duy trì
đoàn kết trong nội bộ nhân dân; củng cố, phát huy tình cảm và đạo lý truyền thống
tốt đẹp trong gia đình, cộng đồng; phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, tội
phạm, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.
Phát huy
quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý xã hội. Công tác hòa giải ở cơ sở thể
hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thông qua đó nhân dân, xã hội trực tiếp tham
gia quản lý mọi mặt đời sống xã hội.
Bằng hoạt
động hòa giải ở cơ sở, các bên tranh chấp đã tự mình giải quyết tranh chấp,
xung đột trên cơ sở mong muốn, hài hòa lợi ích của các bên. Hòa giải viên là
người hoạt động vì lợi ích cộng đồng, họ không hướng tới mục tiêu lợi nhuận;
công việc của hòa giải viên là hàn gắn những mâu thuẫn nảy sinh trong gia đình,
dòng họ, tranh chấp giữa hàng xóm láng giềng với nhau; để từ đó không cần đến sự
can thiệp của Nhà nước đối với những công việc mà xã hội có thể tự làm được.
Công
tác hòa giải ở cơ sở giúp giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng, kịp thời
và triệt để; ít tốn
kém về thời gian, nhân lực; tuy nhiên, không phải tranh chấp nào cũng được hòa
giải ở cơ sở. Điều 3 của Luật Hoà giải ở cơ sở quy định về những việc hòa
giải ở cơ sở, như sau:
1. Việc
hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp
luật, trừ các trường hợp sau đây:
a) Mâu thuẫn,
tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;
b) Vi phạm
pháp luật về hôn nhân và gia đình, giao dịch dân sự mà theo quy định của pháp
luật tố tụng dân sự không được hoà giải;
c) Vi phạm
pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý
vi phạm hành chính.
d) Mâu thuẫn,
tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định pháp luật.
Cũng, theo
khoản 2 Điều 1 của Luật này thì hoạt động hòa giải của Tòa án, trọng tài, hòa
giải thương mại, hòa giải lao động và hoà giải tại Ủy ban nhân cấp xã, phường,
thị trấn không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này.