Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Hệ thống chính trị
Skip portletPortlet Menu
 
VB chỉ đạo điều hanh
Skip portletPortlet Menu
 
quy hoạch PT - ktxh
Skip portletPortlet Menu
 
CÔNG KHAI NGÂN SÁCH NN
Skip portletPortlet Menu
 
doanh nghiệp cần biết
Skip portletPortlet Menu
 
Cẩm nang du lịch
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
THÁI HÒA NGÀY ẤY – BÂY GIỜ (03/10/2018 09:32 AM)


 

 

Thái Hòa -  cái tên gợi lên sự hưng thịnh, no ấm. Nằm vắt ngang đôi bờ sông Hiếu hiền hòa nơi miền Tây xứ Nghệ. Vùng đất Thái Hòa được thiên nhiên ưu ái ban tặng cho thế núi, hình sông thoáng đãng, trữ tình, gắn liền với nhiều di tích lịch sử văn hóa, thắng cảnh như: Khu Di chỉ khảo cổ học Làng Vạc, Khu tưởng niệm Bác Hồ về thăm Nông trường  Đông Hiếu, đền Bàu Sen, núi Sao Sa, núi Én... Miền đất bao la trù phú ấy còn là một lòng chảo hội tụ không chỉ màu xanh của những cánh rừng hoang sơ hay rừng trồng mà còn phủ kín màu xanh của những lô cà phê bát ngát, những đồi cao su ngút ngàn, những vườn cây ăn quả, những xóm làng sầm uất, những nương mía trải rộng thênh thang, những ruộng lúa hai vụ xen giữa chân đồi, khe suối, những làng nghề truyền thống như nghề mộc, nghề làm bánh hoa… thương nghiệp phát triển khá thịnh vượng. Con người nơi đây cần cù lao động, giàu lòng yêu nước, chân chất thủy chung, hiếu học, đầy nghĩa khí mà không kém phần lãng mạn. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, người dân nơi đây đã tạo dựng cho mình một bề dày về truyền thống, những phong tục thuần hậu. Đặc biệt kể từ ngày có Đảng, Thái Hòa đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng chung của quê hương, đất nước.

Trong công cuộc đổi mới, phát huy truyền thống cách mạng và những tiềm năng lợi thế sẵn có của mình, Đảng bộ và nhân dân thị xã lại viết tiếp những trang sử mới, góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh. Chính vì vậy mà thị xã Thái Hòa đã giành được nhiều thắng lợi trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Là đơn vị cấp huyện đầu tiên của Bắc Trung Bộ đạt chuẩn nông thôn mới.

Nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập thị xã Thái Hòa, lãnh đạo thị xã đã chỉ đạo Hội Văn học nghệ thuật Thái Hòa xuất bản tập sách “Thái Hòa ngày ấy – bây giờ” nhằm cung cấp cho bạn đọc gần xa một cái nhìn sâu sắc hơn về mảnh đất và con người Thái Hòa trong quá khứ cũng như hiện tại và định hướng cho tương lai.  Tập sách là sự thể hiện của linh khí núi sông, của khí phách và trí tuệ, tâm hồn và tình cảm của các thế hệ người Thái Hòa, một phần của tinh hoa văn hóa và tâm hồn dân tộc. Những bài viết nghiên cứu, tổng kết cũng như nhiều tác phẩm văn, thơ, nhạc, tranh ảnh tiêu biểu lấy đề tài, cảm hứng từ mảnh đất này chắc chắn sẽ mang lại cho độc giả những nhận biết đầy đủ, trọn vẹn hơn về một miền quê với bao tên đất, tên người đã trở nên quen thuộc gần gũi.

Trong khuôn khổ có hạn, tập sách còn có thể có những thiếu sót nhất định, hy vọng tập sách này sẽ mang đến những tình cảm tốt đẹp cho mỗi người để thêm yêu quê hương mình, vững bước đi tới tương lai.

 

 

BAN BIÊN TẬP 

 







LÝ THU THẢO

Thái Hòa, ngày ấy – bây giờ

Bút ký tư liệu

 

Nói đến thị xã Thái Hòa ta nghĩ ngay đến vùng đất đỏ ba-zan, vùng bán sơn địa miền Tây xứ Nghệ, mà truyền nhân nói rằng “Nam Đắc Lắc, Bắc Phủ Quỳ”. Theo tỉnh lộ 48, đường vào Thị xã Thái Hòa đi giữa hai dãy núi Truông Vên và Truông Rếp như một cổng chào thiên nhiên tươi đẹp, giăng qua hai đỉnh núi là đường dây điện 500 KV Bắc-Nam. Nơi cửa ngõ ấy, có cảnh sắc thiên nhiên đa dạng, có hoang sơ tĩnh mặc, có trầm lắng cội nguồn, như là một cửa rừng đi vào vùng bao la, trù phú nhưng đầy huyền bí và linh thiêng. Nơi ấy chính là Phủ Quỳ, là Nghĩa Đàn, là Thái Hòa, là nơi nhà thơ Tế Hanh từng viết: “Nông trường ta rộng mênh mông. Trăng lên, trăng lặn cũng không ra ngoài” (Nông trường cà phê, Tế Hanh, 1958).

Ngược dòng thời gian, theo các tài liệu lịch sử, vùng đất Thái Hòa bây giờ, thời xa xưa là đất Việt Thường; dưới thời Bắc thuộc năm 179 TCN khi Triệu Đà xâm lược nước ta chia nước Âu Lạc ra làm hai quận: Giao Chỉ và Cửu Chân. Thái Hòa thuộc quận Cửu Chân.

Năm 111 TCN nhà Hán diệt nhà Triệu để chiếm nước ta, sau đó chia quận Cửu Chân thành 7 quận; trong đó có quận Hàm Hoan. Thái Hòa thuộc quận Hàm Hoan.

Thế kỷ thứ III dưới sự cai trị của nhà Ngô cắt phần quận Cửu Chân lập quận Cửu Đức gồm 6 huyện, quận Hàm Hoan chuyển thành huyện Hàm Hoan. Thái Hòa thuộc huyện Hàm Hoan.

Đời nhà Tấn (thế kỷ III – đầu thế kỷ IV) đổi là huyện Cửu Đức, quận Cửu Đức. Thái Hòa thuộc quận Cửu Đức.

Năm 523 nhà Lương đô hộ nước ta, đổi Cửu Đức thành Đức Châu. Thái Hòa thuộc Đức Châu.

Thế kỷ thứ VII nhà Tùy đô hộ nước ta và đổi huyện Đức Châu thành huyện Hoan Châu. Thái Hòa thuộc Hoan Châu.

Đời nhà Đường, niên hiệu Vũ Đức thứ 9 (627) thì Thái Hòa thuộc vùng đất Hoan Châu; năm Trinh Quán thứ 13 (640) Thái Hòa vẫn thuộc Hoan Châu. Năm 679 chia Hoan Châu thành nhiều huyện, trong đó có Diễn Châu và Châu Hoan. Thái Hòa thuộc lãnh thổ Diễn Châu.

Năm 980 – 1009 thời tiền Lê, sau khi thống nhất đất nước Lê Hoàn chia các châu thành phủ, lộ, châu. Thái Hòa thuộc lộ Diễn Châu.

Năm 1010 Lý Công Uẩn sau khi rời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên là Kinh đô Thăng Long, đồng thời chia nước ra làm 24 lộ. Thái Hòa thuộc lộ Diễn Châu

Năm 1036 Lý Thái Tông đổi lộ thành phủ. Thái Hòa thuộc phủ Diễn Châu.

Năm 1397 sau khi lật đổ nhà Trần, Hồ Quý Ly lên ngôi đổi tên phủ Diễn Châu thành Trấn Vọng Giang; sau đó lại đổi Trấn Vọng Giang thành phủ Linh Nguyên. Thái Hòa thuộc phủ Linh Nguyên.

Đến đời nhà Minh xâm lược Thái Hòa thuộc phủ Thanh Hoa.

Bắt đầu từ năm Mậu thân 1428 sau khi chiến thắng quân Minh, Bình định vương Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lập ra nhà hậu Lê, chia nước thành 5 đạo, trong đó có đạo Hải Tây gồm: phủ Diễn Châu và Phủ Nghệ An. Thái Hòa thuộc phủ Diễn Châu.

Năm 1466 Lê Nhân Tông lập Phủ Quỳ Châu thuộc trấn Nghệ An và Thái Hòa thuộc vùng đất Phủ Quỳ Châu không thuộc Phủ Diễn Châu.

Năm 1469 Lê Thánh Tông định bản đồ trong nước gồm 12 thừa tuyên và vạch lại bản đồ. Phần lớn thuộc huyện Quỳnh Lưu còn lại thuộc huyện Đông Thành (Diễn Châu) và Thúy Văn (Quỳ Châu); Thái Hòa khi ấy thuộc hai Phủ Diễn Châu và Quỳ Châu.

Năm 1831 dưới thời Minh Mệnh thứ 12 Thái Hòa thuộc đất Diễn Châu. Đến năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) hành chính của Nghệ An được xếp lại và lập thêm một số huyện. Phủ Quỳ Châu vốn có hai huyện là Trung Sơn (Quế Phong) và Thúy Văn (Quỳ Châu – Quỳ Hợp hiện nay) được chia và lập thêm một số huyện mới trong đó có huyện Nghĩa Đường. Thái Hòa khi ấy thuộc huyện Nghĩa Đường.

Năm 1885 sau khi lên ngôi, Đồng Khánh (tên thật là Ưng Đường) do trùng tên với Vua (vì kỵ húy) nên huyện Nghĩa Đường đổi thành huyện Nghĩa Đàn. Khi ấy Nghĩa Đàn được thành lập trên cơ sở trích đất của 7 tổng huyện Quỳnh Lưu, 1 tổng huyện Yên Thành, 1 tổng huyện Thúy Vân cũ do Phủ Quỳ Châu kiêm lý; lúc này Nghĩa Đàn có 9 tổng và 46 xã thôn. Thái Hòa thuộc huyện Nghĩa Đàn.

Trên chính vùng đất này ngày 22/10/1907, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định củng cố lại vùng Quỳ Châu – Nghĩa Đàn, đặt tại Nghĩa Hưng một sở đại diện của chính quyền cấp tỉnh đến ngày 01/9/1908 thì gọi là trạm Nghĩa Hưng.

Đến ngày 3/3/1930 toàn quyền Đông Dương ra Nghị định lập sở địa lý Phủ Quỳ. Thái Hòa thuộc Phủ Quỳ của Nghĩa Đàn và khi Nghĩa Đàn trở thành đơn vị độc lập ngang hàng với các phủ, huyện khác thì cơ cấu hành chính của huyện gồm có 6 tổng và 58 xã thôn: 1.Tổng Cự Lâm: 12 xã, thôn. 2. Tổng Thái Thịnh: 7 xã, thôn. 3. Tổng Nghĩa Hưng: 10 xã, thôn. 4. Tổng Thạch Khê: 11 xã, thôn. 5. Tổng Hạ Sưu: 8 xã, thôn. 6. Tổng Lâm La: 8 xã, thôn. Thái Hòa thuộc tổng Nghĩa Hưng.

Đầu thế kỷ XX khi người Pháp tiến hành khai thác ở Phủ Quỳ đã tác động sâu sắc tới tình hình mọi mặt của Nghĩa Đàn và vùng đất Thái Hòa mà thời đó gọi là: Trung tâm hành chính Nghĩa Hưng và khu đô thị Hiếu. Điều hành trung tâm hành chính Nghĩa Hưng là Tòa đại lý nằm ở phía Tây bờ sông Hiếu. Sau cách mạng tháng Tám, chính quyền huyện Nghĩa Đàn sát nhập các làng Bắc Hiếu, Cựu Hiếu, Tân Hiếu, Vạn Bồi Nhân thuộc tổng Nghĩa Hưng lại và đặt tên là Thị bộ Hiếu. Sau phiên họp Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 6/1/1946, cùng với việc thông qua nhiều chủ trương chính sách quan trọng về kinh tế - xã hội, Quốc hội đã quyết định bỏ cấp Tổng, hợp nhất các làng nhỏ thành xã mới. Vào đầu năm 1946 đại diện Mặt trận Việt Minh huyện Nghĩa Đàn là ông Hoàng Ngọc Chi được cử về tổ chức hội nghị đại biểu các tầng lớp nhân dân để thảo luận, lấy ý kiến. Những người trẻ tuổi như Nguyễn Văn Vững, Nguyễn Ái Hằng… đề nghị đặt tên “Ville Phủ Quỳ” mà trước đó có thời từng được gọi, nhưng những người trung niên và cao tuổi như ông Lang Phước, ông Lê Văn Linh… đề nghị đặt tên mới là Thái Hòa, với ý nghĩa là đất nước thái bình, cuộc sống yên ổn, cư dân hòa thuận. Đại đa số đại biểu tham dự hội nghị đồng ý theo ý kiến của các bậc cao niên. Theo đó, Thị bộ Hiếu có tên gọi mới là xã Thái Hòa.

Năm 1947, thực hiện chủ trương của Chính phủ, Nghĩa Đàn có 61 làng được hợp nhất lại thành 16 xã mới. Xã Thái Hòa bấy giờ bao gồm các làng: Đông Hiếu, Nghĩa Long, Đại Vạn, Bồi Nhân và Phố Hiếu với 1.742 nhân khẩu

Tháng 10 năm 1953, thực hiện chủ trương của Nhà nước, xã Thái Hòa tách thành 2 xã: Thái Hòa và Nghĩa Hòa với 1.200 nhân khẩu, trong đó ¾ cư dân làm nghề buôn bán dịch vụ và ¼ làm nông nghiệp.

Năm 1957 xã Thái Hòa trở thành thị trấn – trung tâm huyện lỵ của huyện Nghĩa Đàn. Một trong những thị trấn đầu tiên của tỉnh Nghệ An, là sự khẳng định về định hướng xây dựng Thái Hòa phát triển hướng tới đô thị ở vùng Tây Bắc – Nghệ An.

Năm 1965, Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc thị trấn Thái Hòa khi ấy có các chòm: Hóc Môn, Bàu Sen, Kho Vàng, Đồng Lầy; chính quyền thị trấn tổ chức lại các đơn vị dân cư cho đến năm 1970 đổi thành xóm. Thời kỳ này thị trấn Thái Hòa có 8 xóm: Đồng Lầy (sau đổi là Đồng Tâm), Kho Vàng (sau đổi là Tân Sơn), Đồng Tiến, Bàu Sen, Tân Thắng, Quyết Thắng, Liên Hòa, Thông Tiến.

Năm 1973, sau khi Hiệp định Pa-ri ký kết các hộ dân đi sơ tán trở về, các hộ cán bộ, công nhân viên chức theo cơ quan về thị trấn. Để thuận lợi cho việc quản lý hành chính trên địa bàn, chính quyền thị trấn Thái Hòa đã tiến hành điều chỉnh địa giới dân cư và thành lập thêm một số xóm mới. Năm 1997, thực hiện Chỉ thị 364/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, thị trấn Thái Hòa và xã Nghĩa Hòa xác định lại địa giới hành chính và tiến hành chuyển giao một số hộ dân sống xen cư. Tháng 9/2005, thực hiện chủ trương của Đảng ủy về xây dựng thị trấn Thái Hòa theo hướng đô thị, UBND thị trấn Thái Hòa đã tiến hành đổi tên gọi xóm thành khối (theo mô hình của các phường thuộc thành phố Vinh), khảo sát và tiến hành gắn số ngõ, số nhà.

Là một đô thị trẻ năng động, có vị trí địa lý, có  kinh tế phát triển khá đồng bộ, rất thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế-văn hoá-xã hội giữa miền núi và miền xuôi, giữa vùng miền trong tỉnh và các tỉnh bạn mà đã được tách ra để thành lập thị xã Thái Hòa theo Nghị định 164/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ Việt Nam trên cơ sở tách thị trấn Thái Hòa và 7 xã: Nghĩa Quang, Nghĩa Hòa, Nghĩa Tiến, Nghĩa Mỹ, Tây Hiếu, Đông Hiếu, Nghĩa Thuận thuộc huyện Nghĩa Đàn để thành lập thị xã Thái Hòa ngày 10 tháng 5 năm 2008.

Từ ấy đến nay, giới hạn thị xã Thái Hòa ổn định, gồm 4 phường: Hòa Hiếu, Long Sơn, Quang Phong, Quang Tiến và 6 xã (Tây Hiếu, Đông Hiếu, Nghĩa Tiến, Nghĩa Hòa, Nghĩa Mỹ, Nghĩa Thuận) với diện tích khoảng 135 km², dân số khoảng 68.000 người.

*

*     *

Ngay từ buổi bình minh của lịch sử, nơi đây đã sớm xuất hiện một nền văn hóa rất phát triển và khá độc đáo. Đã tìm thấy nhiều cụm Di chỉ khảo cổ làng Vạc, làng Bồi, làng Mét… và dọc bờ sông Hiếu có nhiều hiện vật quý hiếm bằng đá của người nguyên thủy. Từ thời các Vua Hùng dựng nước có hàng loạt hiện vật như: cán dao găm đồng có hình con voi với bành rộng trên lưng; những chiếc nồi, thạp thùng đựng lúa. Không những thế nơi đây đã phát hiện ra rất nhiều trống đồng tương ứng với nền văn hóa Đông Sơn, đặc biệt là trống đồng loại 1 Hêgo với những nét hoa văn rất tinh xảo, phản ánh đầy đủ cuộc sống sinh hoạt phong phú trong lao động-sáng tạo và tinh thần bảo vệ mở mang bờ cõi của người cổ xưa.

Chứng tích khu Di chỉ khảo cổ Làng Vạc ở xóm Đình xã Nghĩa Hòa nằm trên một vùng đồi thoai thoải ven sông Hiếu, dựa lưng vào núi Đại Vạn, có thế núi, thế sông, có ruộng, có đầm, là vùng đất trù phú, an bình mà người Việt cổ đã chọn làm nơi cư trú.

Tương truyền, xa xưa nơi đây là một thung sâu rừng thẳm, bốn bề có núi bao bọc, nhiều con suối nhỏ tập trung về 3 suối lớn; mỗi khi mưa lũ nước trên nguồn chảy về ngập băng cả vùng (Hòa Hiếu, Nghĩa Hòa, Quang Tiến ngày nay). Con suối lớn về đến Làng Lở chia làm ba nhánh: Nhánh phía trên vòng theo Rú Mồ ra Cầu Lim; nhánh phía dưới đi vào Bàu Sen xuống khe Bưởi hợp dòng với các suối nhỏ chảy ra chân núi Đại Vạn; nhánh trung tâm lớn chạy thẳng về Làng Bồi, Làng Trù. Cả 3 suối lớn này gặp nhau ở chân núi Đại Vạn, dấu tích còn lại là chỗ lượn vòng của sông Hiếu ngày nay.

Suối cạn, thung lũng hẹp, năm nào lũ cũng tràn về làm mùa màng thất bát. Bỗng một năm mưa lớn  ngập hết nhà cửa, ruộng vườn; ba con suối lớn đổi dòng nhập thành một sông lớn là con sông Hiếu. Khi suối lớn hợp thành sông, nhánh dưới là nơi trực tiếp của dòng chảy từ thượng nguồn về, đưa đất đá lập nên vùng Thái Hòa. Còn nhánh trên bị lấp kín chỉ còn một lạch nhỏ, di tích còn lại là Bàu Lim (nay là cống cầu Lim, Quang Tiến). Ngày ngay nơi đây thuộc vùng đất khối Thí Nghiệm, người dân ở đây đào giếng sâu trên 10m đã gặp cát sỏi và dòng sông ngầm. Trạm Thí Nghiệm đã khoan giếng trên vùng này gặp nguồn nước có lưu lượng 3m3/giây, người đào giếng phải kêu người kéo lên, không kịp mang dụng cụ, sau đó nước giếng dâng lên cách mặt đất chưa đầy 2m. Ngã ba Trạm Ong (khối Dốc Cao, phường Quang Tiến) vẫn còn một giếng đào quanh năm ngày tháng không bao giờ hết nước, lúc nào nước cũng giữ ở mức cách mặt đất 2m. Muốn nạo vét cho sạch giếng mà máy bơm bơm cả ngày không cạn, bơm đến đâu nước lại lên đến đó.

Chuyện kể rằng sau lần đổi dòng suối lớn thành sông, lũ lụt không còn, cả thung lũng xanh tươi màu mỡ, nước chảy hiền hòa, dưới sông cơ man nào là tôm, cá, rùa, ba ba… cây trồng thì được mùa, dân làng no ấm. Từ đó, các làng bản làm thêm nhiều nghề như: gốm, đúc đồng… Các già làng chia việc cho dân: đàn bà, trẻ con thì đi rừng hái nấm, hái măng, trỉa ngô, trỉa lúa trên nương; đàn ông thì làm lò đúc đồng làm ra các vật dụng như: âu, muôi, khóa thắt lưng, dao găm, trống đồng…; rồi các trang sức làm đẹp như: vòng cổ, vòng tay, nhẫn… Dân làng biết ơn, họp lại để mở hội tạ ơn trời đất, thần linh đã phù hộ cho dân làng làm ăn khấm khá. Nhưng khi bàn đến mở tiệc ăn mừng dân làng không biết lấy đâu ra nồi, niêu, xong, chảo, bát, đĩa… cho đủ. Khi ấy có người nói đi mượn các làng khác, có người đề xuất dùng lá to làm mâm, lá nhỏ làm đĩa, lấy thật nhiều vỏ cây làm bát, làm âu…, nhưng đang là mùa xuân, cây cối đến mùa đâm chồi nảy lộc, đơm hoa kết trái làm sao ngắt lá của cây… Sự lo lắng của già làng, của dân làng làm lay động tới thần linh. Đêm đó, thần linh về báo mộng cho trưởng làng tập trung dân làng đến bên đầm ở giữa làng, Ngài sẽ trao báu vật của trời đất để làng tổ chức lễ hội. Sáng ra, khi dân làng đã tụ hội đông đủ bỗng thấy giữa đầm nổi lên chiếc vạc đồng to như một gian nhà trôi từ từ vào bờ, những chàng trai cao to vạm vỡ xuống vớt vạc và rước vạc về đình, khi mở ra thì trong vạc có 10 vạc nhỏ và rất nhiều bát đũa, âu, đĩa... Dân làng tưng bừng mở lễ hội. Sau 3 ngày mở tiệc, dân làng làm lễ tạ ơn và trả lại báu vật cho thần linh. Mọi người rước Vạc ra đầm thả xuống, đang sụp lạy thì vạc đồng từ từ trôi ra giữa đầm rồi chìm xuống. Từ đó, làng đặt tên là đầm Vạc, rồi gọi tên làng là làng Vạc. Hàng năm cứ đến ngày đã định, dân làng lại tổ chức lễ hội để tạ ơn thần sông, thần núi đã mang lại cuộc sống ấm no.

Nếu như truyền thuyết về đầm Vạc được xem là yếu tố tâm linh thì sự tình cờ tìm thấy các hiện vật của người Việt cổ trong quá trình đắp đập ở làng Vạc được xem là sự kết nối linh thiêng giữa truyền thuyết và hiện thực cuộc sống người Việt cổ mấy nghìn năm trước. Một sự tình cờ đến ngẫu nhiên, năm 1972 nông dân xã Nghĩa Hòa đắp đập dưới chân núi Đại Vạn (làng Vạc) tìm thấy kho tàng hiện vật ở Làng Vạc gồm: trống đồng, dao găm, rìu xéo, tượng voi, hổ và nhiều đồ đá, gốm, thủy tinh có niên đại từ 2.000 đến 2.500 năm trước. Sự việc được báo cáo lên Ty Văn hóa lúc đó và được các cấp, ngành vào cuộc tìm hiểu. Đến năm 1991, sau 5 đợt khai quật 347 ngôi mộ cổ, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy 1.228 hiện vật giá trị, đặc biệt là lần khai quật này đã phát hiện nơi cư trú của người Việt cổ Làng Vạc. Chính vì thế mà Làng Vạc được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng khu di chỉ khảo cổ học cấp quốc gia năm 1991. Truyền thuyết Làng Vạc và văn hóa cội nguồn như là một nguồn tâm linh giao hòa với thiên nhiên kỳ vỹ. Bản thân sự giao hòa ấy đã là ngôi đền thờ tâm linh của cõi đời. Đó là nơi mang dấu ấn của người Việt cổ, của loài người trong lịch sử tiến hóa từ cổ đại, trung đại đến hiện đại.

Từ năm 1999, lễ hội Làng Vạc khai hội lần thứ nhất, cho đến nay hàng năm đến ngày 8/2 Âm lịch là ngày giỗ Tổ của làng và thị xã mở lễ hội Làng Vạc trong 3 ngày: mồng 7, mồng 8 và mồng 9. Tuy nhiên, từ lễ hội lần thứ 18 - năm 2017, UBND thị xã Thái Hòa đã có tờ trình và được UBND tỉnh đồng ý cho chuyển thời gian tổ chức lễ hội vào các ngày 9, 10, 11/3 Âm lịch nhằm vào dịp giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 Âm lịch). Việc chuyển thời gian tổ chức đảm bảo tính trang trọng, tiết kiệm, từng bước nâng tầm lễ hội và đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh cho mọi người dân. Qua đó, một lần nữa khẳng định giá trị Di tích khảo cổ học Làng Vạc gắn với dấu tích thời kỳ dựng nước của các Vua Hùng. Từ đó, chúng ta phát huy truyền thống cha ông, khắc ghi lời Bác Hồ đã dạy: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”; quyết tâm xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh. Lễ hội Làng Vạc đã trở thành một nét văn hóa tốt đẹp, đây cũng là dịp để nhân dân Phủ Quỳ và du khách thập phương trở về với cội nguồn tâm linh, về với nòi giống Lạc Hồng, vui xuân trẩy hội và thỏa mãn nhu cầu thưởng thức những giá trị văn hóa mà cha ông ta để lại. Trong tiếng cồng chiêng, tiếng hát của những trai thanh gái lịch vùng đất đỏ Phủ Quỳ không gian ấy như không còn khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại, giữa cuộc đời thực và thế giới mộng mơ.

Cứ tưởng tượng, ngày xưa, xưa lắm nơi đây là đồi rừng, nhiều cây cổ thụ, làng dựa vào núi, vào rừng ở phía Đông Bắc, còn phía trước mặt là cả một khoảng trời rộng mênh mông, bãi sông bát ngát, nước sông trong xanh. Đó thực sự là một nơi ăn, ở lý tưởng, phong thủy hữu tình. Ngắm nhìn vị trí cư trú ấy mới thấy sự thông minh đến lạ lùng của người Việt cổ. Chưa hết ngạc nhiên, con đường đi sâu vào hẻm núi, trước mặt là một dãy núi chắn ngang, hai bên là hai triền đồi tạo thành một thung lũng nhỏ hay chính xác hơn là một hốc núi lớn. Phía trong cùng của thung lũng là đầm nước Đại Vạn, nơi ấy hiện nay là xóm Đại Vạn – xưa là khu mộ táng của người Việt cổ. Những ai chưa biết Làng Vạc chắc sẽ nghĩ: cũng là một làng bình thường như bao làng khác; nhưng khi đến rồi ngắm nhìn tổng thể vị trí phong thủy ở đây mới thấy người xưa chọn nơi ở, nơi an táng như là một “thiết kế” làng trong cảnh sắc đất trời vô cùng tinh tế và đó cũng là vị trí địa linh độc đáo bảo vệ làng chống lại kẻ thù xâm lấn.

Còn ngày nay, đến với khu Di chỉ khảo cổ Làng Vạc đã có con đường nhựa rộng, uốn lượn qua phố, qua làng, đi qua cánh đồng mía của bãi bồi sông Hiếu chảy uốn lượn dưới chân núi Đại Vạn. Xóm Đình ở đầu cửa  núi vào Làng Vạc; bên trái là triền núi nhấp nhô mái nhà lợp ngói đỏ ẩn hiện trong những vườn cây mướt xanh như ngọc, chênh vênh trên sườn đồi; bên phải là đồng lúa được lấy nước từ hồ Đại Vạn, mỗi năm hai vụ xen canh. Xóm Đình trước đây là nơi cư trú của người Việt cổ của nền văn hóa Đông Sơn, lưng dựa vào núi Đại Vạn, mặt hướng ra hướng Nam – Tây Nam, trải rộng theo bãi bồi sông Hiếu mát mẻ về mùa hè và luôn ấm cúng về mùa đông. Và nơi đây thi thoảng còn có từng đàn cò trắng dập dìu bên cánh rừng, chúng bay từng đàn, từng đàn, là là bên cánh rừng như tìm về chốn bình yên để đậu, bên trên mây trắng bồng bềnh, ở dưới rừng xanh hiền hoà, ta như nghe thấy tiếng thì thầm của  đàn cò trắng rỉ tai nhau: Có ở đâu bình yên như phố núi này?

 

*

*     *

 

Sau những thế kỷ chói chang của nền “văn hóa Đông Sơn”, “văn hóa Làng Vạc”, dân tộc ta bị đắm chìm trong gần 1000 năm thống trị đen tối của phong kiến phương Bắc; sự hủy hoại của thời gian và thiên tai đã làm mất đi bao giá trị của nền “văn minh Làng Vạc”. Sau cư dân Làng Vạc, các thế hệ đến sinh cơ lập nghiệp trên vùng đất này tiếp tục công việc khai sơn phá thạch, mở mang đất đai canh tác, tạo lập ruộng vườn, nhà cửa hình thành nên các làng Cựu Hiếu, Bắc Hiếu, Tân Hiếu (nay thuộc phường Quang Tiến), Vạn Bồi Nhân. Phần lớn cư dân của làng là dân tộc Thổ thuộc ba dòng họ lớn: Phạm, Phùng, Trương; ngoài ra có dân tộc Thái và một số ít người Kinh, người Thanh.

Phủ Quỳ – Nghĩa Đàn - Thái Hòa là vùng đất của nghĩa khí qua nhiều thời đại. Mà nghĩa khí vốn là truyền thống dân tộc được thể hiện trên một vùng đất sông núi bao la. Một đặc điểm nổi bật của lịch sử dân tộc là trường kỳ đấu tranh giành và giữ nước. Trong cuộc chiến sinh tử ấy, phẩm chất của nhân dân được thể hiện tập trung qua những con người tiêu biểu, những hào kiệt anh hùng. Vùng đất này nhiều lần là căn cứ địa của các cuộc kháng chiến và trở thành lò tôi luyện phẩm chất ấy.

Trong cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên ở thế kỷ XIII nơi đây là địa bàn cung cấp quân, lương cho quan quân nhà Trần đánh giặc. Khi nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo, quyết định vượt Bồ Đằng, Đa Căng (Quỳ Châu) đánh thẳng xuống miền Trà Lân (Tương Dương) chọn Nghệ An làm chỗ “đất đứng chân” để tính việc giải phóng đất nước. Sự tích làng Đong, làng Rạch, di tích Mả voi Lê Lợi, truyền thuyết về hòn đá đò, sự tích núi Kho Vàng đều nói lên sự phong phú, đa dạng của nhân dân Nghĩa Đàn  trong đó có cư dân vùng Thái Hòa đối với cuộc kháng chiến của quân và dân ta ở thế kỷ thứ XV (khoảng cuối năm 1424)

Đầu thế kỷ thứ XVI, nhân dân tiếp tục tham gia ủng hộ phong trào của Nguyễn Hữu Cầu (Quận He): “Lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo”. Thế kỷ thứ XVIII (1738 – 1770) tham gia đóng góp, ủng hộ cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật. Hơn 30 năm làm chủ vùng Phủ Quỳ, chủ soái Lê Duy Mật đã đem lại nhiều quyền lợi thiết thực cho nhân dân như: xóa bỏ nợ nần,  chia ruộng đất cho dân, đào kênh, đắp đập, lập lò rèn, mở chợ buôn bán… Khi Lê Duy Mật mất,  nhân dân tiếp tục nuôi dưỡng tinh thần đấu tranh chống áp bức, tích cực đóng góp sức người và của cải  cho phong trào Tây Sơn, nhất là trong lần tiến quân ra Bắc giải phóng Thăng Long – mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) của anh hùng Nguyễn Huệ.

Giữa thế kỷ thứ XIX, khi thực dân Pháp mở rộng công cuộc khai thác đối với Phủ Quỳ thì Nghĩa Đàn – Thái Hòa càng giữ vị trí hết sức quan trọng về kinh tế, quân sự và vai trò của nhân dân Nghĩa Đàn – Thái Hòa trong công cuộc dựng nước và giữ nước ngày càng được khẳng định.

Với địa thế là nằm giáp ranh giữa miền đồng bằng và miền núi Tây Bắc Nghệ An nên nhân dân cùng một lúc ủng hộ hai cuộc khởi nghĩa: Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn ở Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành và  cuộc khởi nghĩa của Lang Văn Thiết ở Quỳ Châu, Quế Phong, Nghĩa Đàn. Sau khi Nguyễn Xuân Ôn bị bắt (1787) phong trào của Lang Văn Thiết gia nhập vào các cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh), Cầm Bá Thước (Thanh Hóa) dọc theo tuyến miền núi từ Hà Tĩnh ra Thanh Hóa cho đến khi phong trào Cần Vương chấm dứt.

Đến những năm 20 của thế kỷ XX, thanh niên Phủ Quỳ chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước do cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh khởi xướng, một số thanh niên tiến bộ ở miền xuôi lên miền Phủ Quỳ để tuyên truyền cách mạng, trong đó có Võ Nguyên Hiến và Phan Huynh (con trai cụ Phan Bội Châu). Đến đầu năm 1929 Võ Nguyên Hiến đến Nghĩa Đàn vận động thành lập nhóm Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Thọ Lộc (nay là xã Nghĩa Khánh). Tháng 10 năm 1930, tại hang Rú Ấm, xã Thọ Lộc (nay thuộc xã Nghĩa Đức), một sự kiện chính trị quan trọng đã xảy ra, chi bộ Đảng đầu tiên của Nghĩa Đàn được thành lập, có 5 đảng viên do đồng chí Phan Đình Lại làm Bí thư…. Đây là một trong những chi bộ Đảng được thành lập đầu tiên ở các huyện miền núi Nghệ An, sau đó nhiều chi bộ Đảng mới được thành lập. Tháng 4 năm 1931, hội nghị hợp nhất giữa các chi bộ Đảng được tổ chức tại làng Lụi xã Nghĩa Mỹ. Sự kiện này được xem như là sự ra đời của Đảng bộ Nghĩa Đàn. Những cuộc đấu tranh đòi tự do, dân chủ, đòi cơm áo, hòa bình được duy trì và ngày một nâng cao. Nổi bật là phong trào Đông Dương Đại hội (1936 – 1940) vừa công khai vừa nửa công khai. Nhưng do thực dân Pháp luôn tìm cách phá hoại nên Đông Dương Đại hội đã không được mở ra, phong trào rút vào bí mật và hình thành các hội Tương tế, Ái hữu, các phường cày, phường cấy… nhằm duy trì tinh thần cách mạng trong nhân dân. Trong suốt 15 năm, Đảng bộ đã nhiều lần phải tổ chức lại nhưng luôn đóng vai trò lãnh đạo và đã giành được chính quyền về tay nhân dân vào ngày 22/8/1945. Từ sau cách mạng tháng Tám 1945, cùng với cả nước, Nghĩa Đàn bước vào công cuộc “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”.

Bấy giờ, tại Thái Hòa có đội bóng đá Liên hiệp Phủ Quỳ là một trong những đội bóng mạnh của tỉnh. Anh Trần Ngọc Cán và những người trong tổ chức yêu nước ở Thái Hòa  bấy giờ đã tìm cách thông qua các trận bóng đá để vận động lớp thanh niên đi theo cách mạng. Vào những năm 1938 – 1939 ở Thái Hòa hình thành một tổ chức hội gọi là “Nông-Công-Thương tương tế hội”, hội viên là những người có học thức do ông Đỗ Toàn Bảo phụ trách. Nhằm tuyên truyền phổ biến sâu rộng các chủ trương của Đảng trong công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động, huyện ủy Nghĩa Đàn đã cho xuất bản tờ Liên Hiệp và dự kiến sẽ chọn địa điểm chữa xe đạp của đồng chí Trần Ngọc Cán để tổ chức in ấn. Nhưng chưa kịp triển khai thì đồng chí Chu Huệ cán bộ của Đảng bị bắt nên công việc xuất bản đành bị đình lại.

Nghĩa khí là một mặt tiêu biểu của văn hóa, còn mặt khác là trí tuệ, tài năng, mà cái gốc của trí tuệ, tài năng là sự học.

Từ thời Bắc thuộc, chắc chắn quan lại và một số bộ phận người Việt thuộc tầng lớp trên phải biết chữ Hán và tiếp cận Nho giáo để có thể giao lưu, làm việc với người Hán. Đến thời tự chủ, Nhà nước Đại Việt lại dùng chữ Hán trong việc học, việc quan. Đặc biệt là đời Lý, việc học được mở mang rộng hơn.

Đầu thế kỷ XX, các nho sỹ yêu nước tiến bộ cố gắng tiếp thu cái mới, ra sức phá lối học, lối thi cũ, mở các trường mới theo mẫu Đông Kinh nghĩa thục dạy chữ quốc ngữ, toán Pháp, khoa học. Những năm đầu thế kỷ XX, toàn tổng Nghĩa Hưng chỉ có 1 trường sơ học yếu lược đặt ở bờ Tây sông Hiếu (thuộc phường Quang Tiến ngày nay). Trường chỉ có 3 lớp: lớp 5, lớp 4 và lớp 3 (tức là các lớp 1,2,3). Cụ Trịnh Thúc An (tên thường gọi là cụ Hàn Yên, người huyện Nam Đàn, từng thi đậu tam trường, lên lập nghiệp tại Thái Hòa từ những năm 1920) là một trong những số thầy giáo đầu tiên của trường tổng Nghĩa Hưng. Bấy giờ mỗi lớp học chỉ có khoảng vài chục học trò, phần lớn là con em các gia đình quyền thế, khá giả trong vùng. Còn con em dân cày và phu đồn điền hầu hết đều mù chữ.

Cách mạng thành công, thực hiện lời kêu gọi của Bác năm 1946 phong trào “diệt giặc dốt” được phát động, một trường học đầu tiên ra đời ở đất Phủ Quỳ (ở xã Nghĩa Hòa ngày nay) với khoảng 50 – 60 học sinh, 3 giáo viên do thầy giáo Nguyễn Ngọc Phác làm Hiệu trưởng. Năm 1952 trường bắt đầu có cấp 2 (THCS) do thầy Hoàng Xuân Đính làm Hiệu trưởng. Đến năm 1962, trước tình hình học sinh sau khi tốt nghiệp cấp 2 phải về Vinh, Đô Lương, Diễn Châu để học tiếp, huyện Nghĩa Đàn đã được tỉnh đồng ý cho mở trường cấp 3 (THPT), khi ấy trường chỉ có hai lớp 8 (lớp 10 bây giờ), thầy Hoàng Xuân Đính được cử về làm Hiệu trưởng.

Từ năm 1986,  đến đầu tập kỷ 90 đất nước mở cửa – bước vào thời kỳ đổi mới, ngành giáo dục cũng từng bước thay đổi, phù hợp với sự phát triển của xã hội. Ngành giáo dục phổ thông phát triển mạnh mẽ với hệ thống các trường cấp I, cấp II, cấp III đủ đáp ứng cho con em trong thị xã học tập. Đến nay Thái Hòa đã có 1 trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật miền Tây, 5 trường THPT (Thái Hòa, Đông Hiếu, Tây Hiếu, TTGDTX và Dân lập sông Hiếu (hiện nay trường Dân lập sông Hiếu đã giải thể)). Nhiều năm liền các trường cấp III đều đạt danh hiệu “Trường thi đua xuất sắc” và nhiều thầy cô giáo được tặng danh hiệu “Nhà  giáo ưu tú”. Một thành tựu lớn nữa là hàng nghìn con em của Thái Hòa đã tốt nghiệp hoặc đang theo học tại các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp trong và ngoài nước… Trau dồi kiến thức, bồi dưỡng phẩm hạnh và đỗ đạt là yêu cầu, là thành quả đầu tiên của sự học, còn hành, đem cái sở học ra thực hiện, giúp đời mới là thành quả cuối cùng.


*

*    *

 

Sông Hiếu, từ bao đời nổi tiếng là dòng sông đẹp của vùng Phủ Quỳ. Ngay cái tên sông đã gợi lên vẻ đẹp hiền hòa, du dương, êm dịu, có nghĩa có tình.

“Hiếu” - thể hiện sự tôn kính, quý trọng, luôn biết ơn, ghi nhớ những bậc sinh thành, người có công ơn với mình. Hiếu là hiếu thảo, hiếu kính, hiếu trung. Ở trên là bộ THỔ - (Tǔ) với nghĩa là đất. Ở dưới là bộ TỬ - (Zi) với nghĩa là con cái. Đường cắt ngang giữa thổ - và tử - là nét xiên “/” (), chữ Hiếu ấy bắt nguồn từ huyền thoại về một dòng sông? Phải chăng đó là con đường độc đạo duy nhất để cứu dân làng?

Từ xa xưa các già làng vẫn truyền lại cho con cháu câu chuyện về một người con như một bản hùng ca, ca ngợi người con gái  hiếu thảo đã hy sinh  thân mình để cứu bản  làng. Ngày ấy, nơi đây vốn thanh bình, yên ả, cuộc sống sung túc, mùa màng bội thu.  Bỗng một hôm từ trong lòng đất một hung thần xuất hiện, những bước chân đi đến đâu là ở đó lại phun lên những dòng nham thạch rực đỏ. Không chỉ dân làng mà cả thần rừng cũng khiếp sợ. Một đêm, già làng mơ thấy thần rừng mách bảo phải hiến cho hung thần một người con gái đẹp và trinh nguyên thì cây cối mới lại đâm chồi nảy lộc, đơm hoa kết trái. Già làng họp dân làng lại nhưng ai cũng sợ thần lửa, các cô gái đều cúi mặt sợ sệt, chỉ có người con gái của già làng dám đứng dậy nhận nhiệm vụ để cứu dân làng. Khi nàng đi đến hang của thần lửa thì bỗng có một tiếng nổ lớn, hang của thần lửa đã không còn nữa mà thay vào đó là một dòng sông trong xanh, nước chảy êm đềm. Mọi người đặt cho dòng sông ấy là sông Hiếu.

Ngày nay, sông Hiếu là một phụ lưu của sông Lam, bắt nguồn từ vùng  núi huyện Quế Phong, chảy quanh co theo hướng Đông - Nam qua Quỳ ChâuQuỳ HợpNghĩa Đàn, đến thị xã Thái Hòa, rồi đổi hướng chảy theo hướng Tây Nam qua huyện Tân KỳAnh Sơn và hợp nhất với sông Lam tại xã Đinh Sơn, Anh Sơn. Sông có tổng chiều dài khoảng 220 km, là chi lưu lớn nhất của sông Lam. Nước sông Hiếu không sâu nhưng cũng không nông, chảy không nhanh nhưng cũng không quá chậm, vị nước ngọt mà thơm, có cảnh trí tắm nước hứng gió. Đây là nơi sông núi giao hội, âm dương hòa hợp, xứng đáng là con sông đẹp nhất vùng miền Tây xứ Nghệ.

Điểm hội tụ vẻ đẹp sông Hiếu là dãy núi Kho Vàng. Tương tuyền, xưa kia đường lên Phủ Quỳ hiểm trở, dân cư thưa thớt, chỉ có một con đường độc đạo, rừng núi còn rậm rạp nguyên sinh có nhiều cây cổ thụ lớn, quý như: lim, sến, táu, ngụ, đinh hương… và còn có nhiều loài thú dữ. Đặc biệt là có một con hổ hay vào làng bản phá phách, bị dân làng bao lưới bủa vây bị mắc kẹt và mất một chân. Từ ngày bị mất một chân hổ không dám quấy phá dân làng nữa, dân làng lập miếu thờ sống hổ ba chân tại chân dốc (miếu này còn tồn tại trong chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ). Từ đó người miền xuôi, miền ngược đi qua đây đều có hương vàng cúng bái, vàng mã đốt chất thành đống vì thế người dân đặt cho núi này với tên gọi là núi Kho Vàng. Người dân về đây sinh cơ lập nghiệp rồi hình thành vùng đất Phủ Quỳ từ khi nào không hay:

“Nao nao một dải Kho Vàng

Núi như thành lũy che làng nghĩa nhân

Để người khắp ngả quây quần

Sinh cơ, lập nghiệp tiến thân đất này”

Trên dãy núi Kho Vàng có đỉnh Sao Sa; đứng từ trên này nhìn xuống là thấy cả phong cảnh đẹp của vùng trung tâm thủ phủ, ngắm dòng sông Hiếu uốn lượn quanh co, ngắm nhìn Bàu Sen xanh mát ngát hương sen. Chính vì vậy mà các vị tiên nhà trời thường xuống để thượng ngoạn cảnh đẹp. Ngày nay, trên đỉnh Sao Sa có cột thu phát sóng của Đài Truyền thanh – truyền hình thị xã tiếp sóng Đài Truyền hình Việt Nam phục vụ bà con nhân dân. Ngọn đèn sáng trên ngọn tháp truyền hình như ngôi sao lung linh tỏa sáng làm cho đỉnh Sao Sa đẹp và huyền ảo hơn. Không chỉ có thế ngôi miếu xưa bị giặc Mỹ bắn phá nay đã được tôn tạo lại, tuần rằm mồng một khói hương thơm ngát cả một vùng.

Dưới chân là hồ Bàu Sen có ngôi đền Bàu rất linh thiêng nhuốm màu huyền thoại về sự tích con trâu trắng của Thủy thần đi lạc, để rồi cho đến ngàn đời sau cứ đến mùa là sen lại nở trắng đầm, thơm ngát, tinh khiết, trắng trong như tấm lòng nhân ái của góa phụ vì không nỡ ăn thịt trâu mà được báo mộng để thoát nạn đại hồng thủy. Nhưng tất cả làng mạc, nhà cửa đều bị nhấn chìm biến thành hồ nước mênh mông vì dân làng không chịu tin lời của góa phụ. Đứng trước tảng đá lớn bên hồ nước mênh mông góa phụ thề đi theo dân làng cho tròn đạo nghĩa. Nơi góa phụ gieo mình mọc lên mấy khóm sen thơm ngát, dần dần lan khắp mặt  hồ. Hòn đá nơi góa phụ trẫm mình xuống gọi là hòn đá thề. Nay ngôi đền vẫn còn và đã được tu bổ lại khang trang hơn và cũng linh thiêng hơn.

Cùng ngự trị ngay dưới chân núi là chợ Hiếu. Chợ được hình thành khi người Pháp có mặt ở Phủ Quỳ. Buổi đầu, chợ họp ở Bến Dạ thuộc bãi Sạn gần sông Hiếu (nằm ở phía Đông cầu Hiếu cũ hiện nay). Vào khoảng năm 1930 chợ dời về phía Đông Nam cách địa điểm cũ vài ba trăm mét(nay là cửa hàng kim khí - điện máy). Từ năm 1937 chợ Hiếu dời về xóm Thông (trụ sở Tòa án nhân dân thị xã hiện nay) và xây dựng khang trang. Cột đình chợ đổ bằng bê tông, cốt thép, cấu trúc của chợ mang dáng dấp chợ Bến Thành (Sài Gón), chợ có hàng chục gian hàng dài, rộng được bố trí theo hình chữ U. Năm 1934 Đình chợ Hiếu vinh dự được đón vua Bảo Đại và Hoàng Hậu Nam Phương đích thân từ triều đình Huế về dự lễ cắt băng khánh thành. Từ đó chợ Hiếu được hình thành (hay còn gọi là Đình đồng hồ), một tháng có ba phiên chợ chính (ngày 10, 20 và 30 hàng tháng). Bãi sông từ bến Dạ đến bến phà toàn hàng nông sản của các huyện miền núi Quế Phong, Quỳ Hợp đổ về đầy cả bãi sông. Mờ sáng, hàng đoàn xe cút kít từ các huyện miền xuôi như Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc… chở nặng nào cá, tôm, rau củ quả đưa về đổ các các sạp hàng ở chợ. Trưa về các xe lại chất đầy hàng lâm nông sản nuối đuôi nhau về xuôi. Bởi từ sau 1946 đến 1954 đây là vùng tự do, vợ con cán bộ cao cấp đều chuyển về đây, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa tăng cao. Bên cạnh đó máy bay của không quân Pháp chỉ bay qua vào những giờ nhất định. Vì thế buổi sáng chợ họp từ khoảng 4h - 8h, buổi chiều từ 16h – 20h. Chính vì thế mà chợ mới có tên là Bến Dạ (Dạ có nghĩa là đêm).

Tấp nập, đông vui, nhộn nhịp là thế nên cụ Lang Mắm (Nguyễn An Chiểu) đã từng viết:

“Phong cảnh ta đây thực tốt thay

Khen ai khéo tạc nước non này

Dưới sông, trên chợ, trông càng thú

Ngoài phố, trong làng, ngó cũng hay

Kẻ bán, người buôn chen chật lại

Xe lên, ngựa xuống vẫn luôn ngày

Mở mang phường phố càng thêm mãi

Chợ họp thâu đêm, lại suốt ngày”

(Phong cảnh chợ Hiếu)

Còn ngày nay, chợ Hiếu đã được dời về khối Tân Sơn (chòm Kho Vàng xưa) họp đủ các ngày trong tháng.

Vào những năm đầu thế kỷ XX, để quản lý xã hội và điều hành công cuộc kinh doanh đồn điền tại Phủ Quỳ, nhà cầm quyền Pháp đã cho thành lập Trung tâm hành chính Nghĩa Hưng. Điều hành Trung tâm hành chính Nghĩa Hưng là Tòa đại lý nằm ở thôn Tây Hiếu, xã Tân Hưng( (trước đây xã Tân Hưng bao gồm: Nghĩa Tiến, Nghĩa Thắng, Nghĩa Quang. Nay thuộc địa phận khối Tây Hồ I, xưởng 250 và khối Quang Phú phường Quang Tiến). Tại khu Trung tâm này có rất nhiều đồn điền bao quanh như: Đồn điền Cai Kế (nay là ở khối 250), đồn điền Hồng Anh (nay là ở Nghĩa Thắng), đồn điền Joong  sau này chuyển sang tên con là đồn điền Jooc (nay là ở Tây Hiếu). Và hàng me trên trăm tuổi (nay chỉ còn chưa đến 100 cây – thuộc khối Tây Hồ I) là của chủ đồn điền Van-te. Ông là người đi đầu trong việc đưa các loại cây ăn quả nổi tiếng của các vùng về như: cam Bố Hạ, cam xã Đoài, bưởi Bố Trạch, vải Thanh Hà - vải Lục Ngạn, nhãn lồng Hưng Yên… Đối diện với hàng me là hàng phượng vỹ được trồng hai bên đường xuống bến Dạ (nay chỉ còn lác đác vài ba cây) mỗi khi hè về hoa nở đỏ rực một góc trời, đứng nghiêng nghiêng soi bóng xuống dòng sông Hiếu trong xanh là minh chứng cho thời kỳ “khai hóa văn minh” thời thuộc Pháp.

Hòa bình lặp lại phố núi Thái Hòa nhộn nhịp vào ca, tiếng còi tầm của xưởng cơ khí 250 được xây dựng bên ven bờ sông Hiếu. Hơn 60 năm qua tiếng còi tầm của xưởng cơ khí ấy ngày nay vẫn còn. Có lẽ cả nước bây giờ ít nơi còn lưu giữ được tiếng còi tầm một ngày bốn lượt như ở thị xã nơi núi rừng này. Bởi vậy, nó vẫn “rất lạ” dù đã quen thuộc đến mức có khi nhàm chán đối với nhiều thế hệ người dân... Có những người bạn ghé chân thăm đất Thái Hòa, ngồi nhâm nhi ly cà phê  Phủ Quỳ  bỗng giật mình rồi sau đó cười giòn tan khi biết ở  thị xã vẫn còn tiếng còi tầm. Thi thoảng những người bạn ấy gọi điện và câu hỏi đầu tiên khi gặp nhau vẫn luôn là: “Tiếng còi tầm ở Thái Hòa giờ còn không?” Tiếng còi tầm vang vọng đến tận đỉnh Hòn Én (hay Rú Én) như một bình nguyên xanh thẳm. Bởi  đây chính là miệng một núi lửa với độ cao không quá 150m, có lẽ cách đây hàng triệu năm núi lửa này phun ra những dòng nham thạch khổng lồ nở bung trên nền trời Phủ Quỳ như pháo hoa ngày Tết với một tiếng nổ như sấm sét.

Xa hơn so với con sông Hiếu, nằm kề ngay sát tuyến đường mòn Hồ Chí Minh là địa danh với những kỷ niệm sâu sắc – nơi Bác Hồ về thăm Nông trường Đông Hiếu (ngày 10/12/1961). Đây không chỉ là vinh dự và niềm tự hào riêng của người dân Đông Hiếu mà còn là niềm tự hào chung của người dân Thái Hòa.

Rất tiếc là ngày nay, nhiều nơi cảnh quan thiên nhiên bị phá hoại, biến dạng, nhiều công trình đình, đền, miếu đã mất, đã tàn… Nhưng những gì còn lại cũng đủ cho ta tự hào về một vùng đất cổ kính, tươi đẹp.

 

*

*     *

 

“Ai lên đất đỏ, Phủ Quỳ

Ngày đi thì có, ngày về thì không”

Phủ Quỳ ấy là Nghĩa Đàn là Thái Hòa ngày nay. Và ngày đi ấy là những tháng ngày cả đất nước đang chịu sự cai trị của thực dân Pháp. Phủ Quỳ vùng đất đỏ ba-zan màu mỡ chỉ đứng sau Tây Nguyên, thêm vào đó Jăng-Đuy-Puy và một số nhà tư bản Pháp sớm nhận ra “Phủ Quỳ là một trong những vùng đất đỏ tốt nhất Đông Dương”, vùng đất này thích hợp với cây cà phê A-ra-bi-ca và Ech-san-sa. Các chuyên gia người Pháp thời bấy giờ cũng đã xác định đây là một vùng đất “thừa thãi nước tưới, không như vùng Kom Tum với những vụ hạn hán kéo dài quá độ, càng không phải sợ những luồng gió ở ngoài thổi vào”. Người Pháp cũng tìm thấy ở Phủ Quỳ một nguồn công nhân bản xứ rẻ mạt, mà trong đó “người dân tộc thiểu số là nguồn lao động rất có giá trị, cộng thêm với những người An Nam ở gần đấy” (người An Nam ý nói đến những người Kinh ở các vùng lân cận). Chính đó là những điều kiện khiến cho công cuộc khai mở đồn điền ở Phủ Quỳ diễn ra với tốc độ chóng mặt. Theo báo cáo của Sở Công chánh Trung Kỳ thì đến năm 1928, chỉ riêng vùng Nghĩa Đàn đã hình thành các đồn điền lớn như: La-pic-cơ (Nghĩa Hưng) 7.500 héc ta; Van-te (Đông và Tây Hiếu) 6.000 héc ta; Xanh-ta (Nghĩa Hợp) 500 héc ta; Ma-rô-thơ (Cát Mộng) 418 héc ta; Sa-tơ (Nghĩa Hưng) 350 héc ta; Mac-ca-ne (Cao Trai) 130 héc ta; Tô-ma (Nghĩa Hưng) 100 héc ta; Mu-tông (Yên Tâm) 60 héc ta; Ga-li-e (Hữu Lập) 40 héc ta. Như vậy trong khoảng mươi năm của đầu thế kỷ XX người Pháp đã bao chiếm trên 15.000 héc ta đất canh tác của vùng Phủ Quỳ, trong số này có 3.200 héc ta chuyên trồng cà phê.

Để phục  vụ cho việc khai thác tài nguyên ở vùng Phủ Quỳ và công cuộc bình định ở vùng Tây Bắc Nghệ An, người Pháp đã mở tuyến đường bộ từ Yên Lý lên Nghĩa Đàn, Quỳ Châu, Quế Phong dài gần 130km, trong đó đoạn Yên Lý – Thái Hòa dài 38 km (nay là quốc lộ 48). Con đường này khởi công từ năm 1909 và hoàn thành vào năm 1921.

Công cuộc khai mở các đồn điền ở Phủ Quỳ làm tăng nhanh “dân số cơ học” dẫn tới sự ra đời của nhiều ngành nghề thủ công nghiệp và dịch vụ như: Nghề rèn có ông Tiếu; nghề chế tác vàng bạc có ông cháu Xuân (Dương Kim Xuân), ông cháu Năm (Nguyễn Văn Năm), ông Tá bạc (Nguyễn Văn Tá); nghề may có ông cháu Lục (Vương Gia Lục), ông cu Đính (Nguyễn Hữu Đỉnh); may com-lê-véc-tông có ông cu Quất (Nguyễn Kim Quất); nghề mộc có Phan Đăng Em (ông Khánh); nghề thuốc bắc có ông Khách Thầy và con là Dương Hồng Vịnh (người Hoa); nghề trồng răng có bà Xoàng, ông Cao (người Hoa); nghề sửa chữa xe đạp có anh em ông Bốn; nghề chụp ảnh có ông Quỳnh Sơn (Ngô Đức Đẩu); nghề bánh kẹo có hiệu bánh kẹo Nam thái của ông Ngọc kẹo (Phạm Văn Đàn); dịch vụ ăn uống có hiệu Tiến Thành sau đổi là Diễn Thành (của bà Nguyễn Thị Nhung gọi là bà Diễn Thành); bún chả bà Lộc (Lý Thị Quế); cà phê, giải khát có ông Tài Xíu, bà Lạc Cảnh; điện thờ của bà Chính Thuyên…và có cả những dịch vụ phục vụ những sở thích phù phiếm, xa hoa, trụy lạc như: cô đầu, nhà thổ, nhà đèn, sòng bạc… biến vùng đất Thái Hòa thành một trung tâm ăn chơi lớn thứ hai sau  thị xã Vinh để phục vụ các điền chủ, lính Tây, cai lý, cường hào, chức dịch và tay sai. Chính vì vậy mới có câu ca:“Vợ chồng chợ Hiếu nhà ta/ Bách niên giai lão được ba, bốn ngày”.

Trước đây, Phủ Quỳ - Thái Hòa là một vùng rừng nguyên sinh có nhiều giống cây lâm nghiệp bản địa quý như: lim, lát hoa, sến, táu, trầm hương,… Vì vậy về nông nghiệp ở đây không có cây bản địa được coi là “cây đặc sản”. Trong quá trình khai thác của người Pháp, qua quá trình di thực và thuần hóa vùng đất bazan màu mỡ này đã có những mặt hàng truyền thống và tài nguyên tiềm ẩn chưa khai thác như: cà phê, cao su, cam quả, mật ong và các mặt hàng gỗ mỹ nghệ.

Cây cà phê được người Pháp trồng từ những năm đầu của thế kỷ XX. Có 3 loại cà phê: cà phê Chè (Coffea Arabica), cà phê Vối (Coffea Robusta), cà phê Mít (Coffea Chari). Cà phê Mít là loại cà phê do các đồn điền cũ trồng, sau này các nông trường chỉ chăm sóc và thu hoạch một thời gian; do năng suất thấp, chất lượng kém, không được thị trường ưa chuộng nên không trồng thêm mới mà loại ra khỏi cơ cấu cây trồng trước năm 1970. Cà phê Vối do những đặc điểm khí hậu, thời tiết không hoàn toàn thích hợp, gây mất ổn định về năng suất và chất lượng nên đến mãi năm 2000 mới loại ra khỏi cơ cấu cây trồng. Cho đến nay đã gần 100 năm thì cây cà phê Chè vẫn được coi là đặc sản và sớm khẳng định vị trí thương hiệu trên thị trường, đến năm 2010 chỉ riêng cây cà phê Chè đã trồng được 3.000 héc ta (có 2.500 héc ta vào kinh doanh) để đạt sản lượng 3.250 tấn cà phê nhân. Từ những năm 1935 – 1940 người Pháp đã nhận biết hương vị thơm dịu của cà phê Chè Nghĩa Đàn và họ đặt tên để phân biệt với cà phê nước khác là “cà phê Tonkin (cà phê Bắc Kỳ). Sau này khi chúng ta đưa cà phê Chè Nghĩa Đàn sang Cu Ba, bạn đã đặt tên là “cà phê Hà Nội”. Giáo sư No-zê-ran, chuyên gia cà phê hàng đầu thế giới về cà phê, đã đi khắp các nước trồng cà phê trên thế giới, thử nếm cà phê ở nhiều vùng nổi tiếng, nhưng khi đến thăm và làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu cây nhiệt đới Phủ Quỳ - Nghĩa Đàn đã nếm thử cà phê Chè ở Nghĩa Đàn và khẳng định: “Cà phê Chè Phủ Quỳ có phẩm chất và hương vị ngon nhất thế giới”. Cho đến nay cũng chưa ai giải thích được nguyên nhân nào mà cà phê Chè trồng ở Nghĩa Đàn đã tạo nên hương vị cà phê đặc biệt này. Phải chăng, ngoài điều kiện đất đai thì đặc điểm khí hậu, thời tiết trong lành, mùa đông không quá lạnh, mùa hè không quá nóng đã tạo nên điều kỳ diệu đó cho cà phê Chè?

Vùng Phủ Quỳ tuy không có cây bản địa đặc sản, nhưng điều kiện thích hợp lại nằm trong vùng có nhiều loại cây có múi đặc sản nên tự nó là “cái nôi chung” của cây có múi đặc sản. Từ năm 1958 – 1960 khi Nghĩa Đàn đưa giống cam Xuyn Kít (Xã Đoài hay còn gọi là cam Vân Du) về trồng ở đội Lê Lợi (nay là Nông trường Tây Hiếu II) trên đất phù sa  đã đem lại hiệu quả kinh tế cao. Từ kết quả đầu tiên ấy các Nông trường ở Nghĩa Đàn đã nhanh chóng phát triển vùng trồng cam ở Tây Hiếu, Đông Hiếu, Cờ Đỏ, 1/5, 19/5 (hiện nay một số đất của Nông trường 19/5 đã nhượng lại cho Công ty Cổ phần sữa TH để phát triển Trang trại chăn nuôi bò sữa lớn nhất Đông Nam Á)…

Cùng với cà phê chè và cam, còn có bưởi hồng Quang Tiến với trên 80 héc ta. Bưởi hồng Quang Tiến có múi mịn, mọng nước, tép có màu hồng, ăn giòn, vị ngọt thanh, khi ăn xong không có vị đắng the như các loại bưởi khác, trọng lượng quả trung bình từ 1,5 - 2kg, đôi khi có những quả gần 4kg, mỗi cây tùy theo độ tuổi từ 100 - 200 quả, và cho năng suất khoảng 2,5 đến 3 tạ/cây.Để xây dựng thương hiệu bưởi hồng Quang Tiến, thị xã Thái Hòa đã liên kết các hộ trồng bưởi ở phường Quang Tiến và xã Nghĩa Tiến để áp dụng quy trình chăm sóc theo dự án Jica. Dự án là sự hợp tác kỹ thuật về quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp Nghệ An do UBND tỉnh và Nhật Bản phối hợp. Mục tiêu của dự án là  áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản suất theo quá trình an toàn, tạo sự đồng nhất về màu sắc, trọng lượng của quả bưởi.

Ngoài những thứ hoa quả ra, Thái Hòa còn có một loại đặc sản: đó là bánh hoa. Nghề làm bánh hoa xuất hiện ở Thái Hòa đã 30 năm nay. Ngày ấy, ông bà nội của chị Nguyễn Thị Thúy Hằng ở khối Tân Liên, phường Hòa Hiếu, người có thâm niên làm bánh có một thời gian sinh sống ở Thái Lan, sau khi hồi hương mang về bí quyết làm bánh hoa. Bánh hoa có hình như những bông hoa, khi ăn giòn, có vị thơm riêng. Nguyên liệu chính để làm bánh hoa là gạo, trứng gà, đường, dừa và vừng. Làm bánh hoa không khó nhưng đòi hỏi người làm phải kiên trì muốn bánh ngon, dòn, đủ độ thì trước hết số khuôn trong chảo dầu phải thật nóng già, khi nhúng khuôn vào bột phải thật nhanh tay và cũng không được để ngập khuôn. Sau đó đưa lên rồi lại thả vào chảo dầu đang sôi, lắc cho đến khi bánh rời khỏi khuôn…,  gói bánh hoa gồm 6 chiếc; bình quân một ngày các cơ sở sản xuất bánh hoa tiêu thụ khoảng 500 gói.

Cùng với những đặc sản trên, còn có mật ong, bởi Nghĩa Đàn – Thái Hòa là vùng đất có nhiều loại cây trồng như: cam, chanh, bưởi, nhãn, vải…, rừng núi hoa nở quanh năm là nguồn cung cấp mật ong; có một số loại cây còn cho ong lấy mật từ nách lá như cao su. Từ những giọt mật vàng óng, sánh mịn ấy mà Xí nghiệp ong khu 4 (thành lập năm 1983) thuộc Công ty Ong Trung ương đã nhận được nhiều đơn đặt hàng từ các nước Mỹ, EU…

Từ những năm 80 cho đến nay, dọc hai bên đường 48, các nông – lâm trường, xí nghiệp từ thời thuộc Pháp được tu bổ, cải tạo, xây dựng thêm ngày càng phát triển sầm uất, có hàng chục nghìn công nhân tham gia lao động, sản xuất. Đồi núi không còn cảnh trơ trọi mà đã được phủ lên một màu xanh ngút ngàn của rừng nguyên liệu. Màu xanh của rừng không chỉ ngập tràn hai bên quốc lộ mà tại các khu vực vùng sâu, vùng xa thuộc Công ty Lâm nông nghiệp Sông Hiếu quản lý đồi trọc cũng đã lùi xa nhường chỗ cho rừng xanh tươi tốt.

Về công nghiệp cơ khí có Công ty Cổ phần cơ khí và xây lắp 250 Phủ Quỳ- đơn vị đầu đàn trong ngành công nghiệp nặng. Về chế biến nông sản có Công ty Cổ phần Dầu thực vật, Xí nghiệp chế biến cao su, cà phê… Về xây dựng có: Xí nghiệp 7, Công ty Xây dựng số 7…

Đất Phủ Quỳ có nhiều nghề mộc, ngày nay công nghiêp hóa – hiện đại hóa phát triển thì sản phẩm tinh xảo này càng ngày càng được ưa chuộng. Trên địa bàn Thái Hòa, hiện có hơn 100 cơ sở chế biến lâm sản, trong đó có 2 làng nghề sản xuất mộc là làng nghề mỹ nghệ, dân dụng Tân Quyết Thắng phường Hòa Hiếu và làng nghề chế biến lâm sản phường Quang Phong…

Bên cạnh đó thì ngành nghề thương mại – dịch vụ như Trung tâm nghiên cứu khoa học về cây ăn quả, cây công nghiệp Phủ Quỳ; Công ty Cổ phần Thương mại – dịch vụ xuất nhập khẩu – du lịch Phủ Quỳ,  Công ty sữa Vinamilk, Nhà máy may Hi-Tex Hàn Quốc, Công ty CP Nam Trung Nghệ An… Rồi Công ty Đầu tư sản xuất và Xuất nhập khẩu Cà phê – Cao su Nghệ An được thành lập từ những năm 1997 với 6 đơn vị thành viên: Nông trường Tây Hiếu I, Tây Hiếu II, Tây Hiếu III, Đông Hiếu, Cờ Đỏ và Xí nghiệp chế biến. Đây cũng là những Nông trường tiếp quản hệ thống đồn điền của các chủ Pháp và Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8/1945. Những cán bộ, công nhân Nông trường đã vật lộn với cây cà phê – cao su 55 – 60 năm, cây cam 45 – 50 năm. Đó chính là tài sản quý giá của công ty được hun đúc, đổi mới và có tiềm năng; cơ hội phát triển trong cơ chế mới khi nước ta đã trở thành thành viên chính thức và đầy đủ của WTO. Đây cũng là Công ty đầu tư và xuất nhập khẩu Cà phê – Cao su Nghệ An đi đầu trong việc tìm đối tác và xuất khẩu sang các nước như: Nga, Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc…

Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế mũi nhọn, một nhà máy nước đã ra đời, cung cấp nguồn nước sạch cho các xí nghiệp, doanh nghiệp và người dân. Đi theo đó là xây dựng bãi xử lý rác thải, tạo cảnh quan môi trường luôn xanh, sạch đẹp.

Hệ thống Ngân hàng được thành lập và phát triển mạnh mẽ như: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV); Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank); Ngân hàng chính sách xã hội (VBSP); Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB); Quỹ tín dụng nhân dân và một số Ngân hàng Vietcombank, Vietinbank, Sacombank, VPBank, ACB…

Hình thành và phát triển song song với nền kinh tế là bản sắc đời sống văn hóa của người Phủ Quỳ - Nghĩa Đàn – Thái Hòa. Nơi đây hội tụ người của 53 địa phương, vùng, miền, với 4 dân tộc cùng sinh sống: Kinh, Thổ, Thái, Thanh. Do vậy, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Thái Hòa mang sắc thái của nhiều địa phương, hòa đồng với sắc thái của người dân bản địa đã tạo nên sự phong phú, đa dạng của bản sắc văn hóa nơi đây. Tính chất cộng đồng ở nơi đây được hình thành từ các hương ước làng xã đã có khá sớm, từ năm 1914 xã Thọ Lộc, Tổng Cự Lâm (nay là xã Nghĩa Lộc, Nghĩa Đàn) đã có hương ước làng xã. Sau những năm đổi mới, văn hóa làng, xã của các dân tộc Thổ, Thái mới được phục hồi và phát huy, đặc biệt là các sinh hoạt văn hóa văn nghệ cồng chiêng, các trang phục truyền thống của người Thái, người Thổ cũng đang được phục hồi, cùng với tiếng nói riêng truyền dạy cho con cháu.

Trong quá trình di dân, Phủ Quỳ là vùng đất màu  mỡ, trù phú, tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng nên sau khi hòa bình lập lại (1954)  một số chiến sỹ, cán bộ cách mạng được trao trả tại Cửa Hội – Nghệ An, tập kết ra Bắc,  một số hộ dân đi khai hoang vùng kinh tế mới đã chọn Phủ Quỳ - Thái Hòa là quê hương thứ hai của mình. Nổi trội trong “dòng văn hóa” này chủ yếu là khu V, các sinh hoạt địa phương như: Tuồng cổ, Hò bài chòi, các trò chơi dân gian… Từ “Hò bài chòi” đã được cải biên hóa thành những “sáng tác dân ca” phục vụ trong các hội diễn, các sinh hoạt thường nhật…của người dân Nghệ - Tĩnh.

Bên cạnh đó là bản sắc văn hóa hiếu học của người Kinh. Sinh con ra là tính chuyện giáo dục, chăm lo cho con cháu học hành. Sinh hoạt văn hóa của người Kinh thường biểu thị ở trình độ học vấn và tiếp thu cái mới, nhanh nhạy với cái mới.

Chính vì bản sắc văn hóa được hình thành từ nhiều miền quê khác nhau, nên các cụ vẫn truyền lại cho con cháu những câu ca, những câu ví von:

“Nước độc Lâm La(1)

Lắm ma Phác Lộ

Cứng cổ Nghĩa Hưng(2)

Tráo trưng Nhiêu Hạp(3)

Nói láp Thạch Khê (4)

Ngồi lê chợ Hiếu(5)

 Và từ cái cũ, cái mới có chọn lọc đã tạo nên tính cách con người Thái Hòa chịu khó, sáng tạo, nhanh nhạy tiếp thu cái mới để phát triển. Bên cạnh đó còn có 4 doanh trại bộ đội đóng quân trên địa bàn nên chính trị, quốc phòng, an ninh đều được đảm bảo. Vì vậy mà một chuỗi các nhà hàng, khách sạn, siêu thị nối tiếp nhau được xây dựng, phục vụ từ người dân bản địa cho đến du khách gần xa trong những mùa lễ hội…

Nối tiếp truyền thống “lương y như từ mẫu”, ngay từ những ngày đầu thành lập Bệnh viện 4 Phủ Quỳ là nơi tiếp nhận hàng trăm ca bệnh mỗi ngày không chỉ ở Nghĩa Đàn mà còn từ Thanh Hóa, Yên Lý, Quỳ Châu, Quỳ Hợp cho đến Quế Phong… Trong công tác quản lý, phòng chống các bệnh truyền nhiễm, các bệnh hiểm nghèo Phòng y tế đã phối hợp với Trung tâm y tế thực hiện tốt công tác quản lý hành nghề y, Dược tư nhân, vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn. Việc giáo dục chính trị tư tưởng, tinh thần thái độ phục vụ, ý thức trách nhiệm và nâng cao y đức thường xuyên được quan tâm, chú trọng. Và sau nhiều năm mong đợi, mới đây Bệnh viện đa khoa khu vực Tây Bắc Nghệ An đã được chuyển sang cơ sở mới vào đầu năm 2018, đây là niềm vui không nhỏ của cán bộ, nhân viên và nhân dân thị xã Thái Hòa và các huyện lân cận đến khám, điều trị bệnh trong điều kiện cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng mới, khang trang, hệ thống trang thiết bị máy móc, kỹ thuật hiện đại…Đó không chỉ là niềm vui của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân mà còn là động lực để đội ngũ y, bác sỹ của bệnh viên yên tâm làm tốt công tác khám, chữa bệnh.

Ven theo đôi bờ sông Hiếu,Thái Hòa không chỉ có thế mạnh về rừng, về sông nước, về du lịch, thêm vào đó lại có một nền kinh tế tương đối hoàn chỉnh với nông nghiệp đa dạng, thủ công nghiệp phong phú với nhiều nghề tinh xảo, thương nghiệp khá phát đạt tạo nên một Thái Hòa tươi trẻ, năng động và mến khách.

 

*

*     *

 

Phố núi Thái Hoà là một lòng chảo hội tụ không chỉ màu xanh của những cánh rừng hoang sơ hay rừng trồng mà còn phủ kín màu xanh của những lô cà phê bát ngát, những đồi cao su ngút ngàn, những vườn cây ăn quả, những xóm làng sầm uất, những nương mía trải rộng thênh thang, những ruộng lúa hai vụ xen giữa chân đồi, khe suối...  Không chỉ có thế chúng ta còn có thể nhìn rất rõ phố núi Thái Hoà như một bông hoa có chín cánh nở xoè ra bốn phía mà tâm nhuỵ hoa chính là Thị xã Thái Hoà, hiếm có huyện miền núi nào được địa thế như thế. Từ Thị xã Thái Hoà đi về hướng Nam (giáp huyện Tân Kỳ) có ba con đường: đường mòn Hồ Chí Minh-tỉnh lộ 545 (đường 15A cũ)-đường sông (sông Hiếu nối sông Con về sông Lam). Đi về hướng Bắc (giáp huyện Như Xuân - tỉnh Thanh Hoá) có hai tuyến đường: đường mòn Hồ Chí Minh-Quốc lộ 15A. Đi về hướng Tây (giáp huyện Quỳ Hợp) có hai tuyến đường: Quốc lộ 48- đường sông (sông Hiếu nối sông Dinh). Đi về hướng Đông (giáp huyện Quỳnh Lưu) có hai tuyến đường: Quốc lộ 48-đường sắt Cầu Giát nối Nghĩa Đàn. Chín cánh hoa là chín cửa ngõ vừa toả ra, vừa hội tụ, biểu trưng cho sự giao lưu kinh tế - văn hoá – thương trường. Thị xã còn có tuyến đường sắt nối thị trấn Cầu Giát của huyện Quỳnh Lưu đến trung tâm Thị xã, đây là một trong ít tuyến đường sắt nội tỉnh ở Việt Nam nối đường sắt Quốc gia với vùng đất đỏ Phủ Quỳ. Nhưng một thời nhộn nhịp của những chuyến tàu khách từ ga Cầu Giát lên ga Thái Hòa và những chuyến tàu hàng chở lâm sản, đá, thiếc về xuôi đã không còn nữa khi tuyến đường 48 được mở từ Yên Lý lên đến tận Quế Phong.

Về với phố núi chúng ta sẽ chạm phải một bầu không khí lãng mạn và nhuốm màu hoài cổ. Một miền thiên nhiên pha nét hoang dã hùng vĩ. Một vùng văn hoá  đa sắc tộc phong phú. Vùng đất mộng mơ với đồi núi trập trùng  xen giữa vùng đồng bằng và sông suối. Với rừng cao su, cà phê, keo, bạch đàn... ngút ngàn quanh năm vi vu lộng gió. Phố núi đẹp và thơ mộng như trong chuyện cổ tích nằm vắt ngang qua dòng sông Hiếu mộng mơ. Và  kia cây cầu Hiếu 2 đang gấp rút thi công đúng tiến độ cho kịp ngày kỷ niệm 10 năm thành lập thị xã.

Đi trên phố núi mà không thưởng thức được cái man mác dìu dịu của gió của nắng của sương mờ lãng đãng trên con đường mang tên Làng Vạc thì gọi gì là lên phố núi. Năm tháng đi qua, phố núi đã chuyển mình theo hành trình lịch sử đất nước. Đêm ở phố núi này cuộc sống tất bật nhưng không vội vã. Có lẽ ấn tượng nhất là được ru mình trong làn lá me bay của gần 100 cây me trên phố hàng me đã hơn trăm tuổi.

Không chỉ có thế, đêm phố núi với tất cả sự dịu dàng, nét quyến rũ có được từ sự hài hoà giữa khung cảnh thiên nhiên và lòng người. Thả bộ men theo đôi bờ sông Hiếu và đón lấy lấp lánh ngàn sao ẩn hiện trong những cánh rừng xa xa. Ở bên dòng sông hiền hoà này, sẽ cảm thấy bầu trời như rộng ra và ánh trăng như tỏ hơn. Đêm là của cỏ lá, của sương mờ lãng đãng. Đêm ở đây còn được thưởng thức bát cháo gà, cháo lươn, xúp lươn nóng hôi hổi hay món cháo canh, bánh bèo, bánh hoa rồi nhâm nhi cùng ly rượu trắng pha sữa ong chúa thơm ngon bổ dưỡng, sau đó uống ngụm chè xanh được om từ cây nhà lá vườn - một đặc sản của vùng miền Tây xứ Nghệ.

Rời phố núi sẽ vẫn giữ nguyên cảm giác một thoáng lênh đênh giữa hồ Khe Đá mênh mông với những đảo nhỏ nổi giữa mặt hồ, sóng nước lung linh huyền ảo trong cảnh sắc thiên nhiên dẫu đã ngàn năm biết bao thăng trầm, đổi thay vẫn còn đó dấu tích hoang sơ, tĩnh lặng của núi ngàn. Tôi thích gọi đó là “hồ trên núi” hơn là “biển treo trên đồi”. Ở đây du khách sẽ được tắm mình giữa vẻ hoang sơ dọc hai bên hồ, những đảo cây đa dạng, những ngôi chùa cho du khách tìm về tâm linh giữa sóng nước và rừng xanh. Trên sóng nước bồng bềnh, thuyền cũng bồng bềnh và cả rừng núi cũng như bồng bềnh trong chốn bồng lai tiên cảnh kỳ ảo, và sương trôi trên mặt hồ, những con thuyền rẽ sóng đi vào mây.  Nước trong xanh, không khí cũng trong lành, không vướng  dù chỉ một chút ít khói bụi . Được tắm mình trong làn nước mát màu ngọc bích ấy sẽ làm dịu đi, không phải dịu mà là tan đi cái nóng của gió Lào miền Trung nắng cháy.

Gió đã thổi bên dòng sông Hiếu thơ mộng nhưng đầy trầm tích, quãng thời gian 10 năm chỉ như viên cuội ném vào dòng nước, nhưng thị xã Thái Hòa đã vươn mình mạnh mẽ trở thành điểm sáng bên dòng sông Hiếu. Và chúng ta có quyền vững tin vào tương lai, đất và  con người Thái Hòa sẽ làm nên “kỳ tích bên dòng sông Hiếu”. Một niềm tin mạnh mẽ như mối lương duyên của những phận người âm thầm gắn bó với dòng Hiếu giang từ hàng trăm năm nay trên vùng đất Phủ Quỳ khoáng đạt.

Đường đưa ta đi rồi sẽ trả ta về nơi ta vốn đến. Tất cả sẽ thành kỷ niệm không thể nào quên trong lòng ta! Hãy giữ gìn và trân trọng những gì mà ta đã sẽ và đang đi qua. Mỗi sáng mai thức dậy ta nghe tiếng gió reo, tiếng còi tầm vang xa, và thoảng đâu đây hương bưởi, hương cam, hương cà phê … tất cả làm cho ta xao xuyến, bồi hồi, khó quên. Và chỉ muốn quay trở lại với phố núi Thái Hoà nếu được thêm lần nữa.

 |  Đầu trang
<<   <  1  >  >>
 
 
 
 
Lịch làm việc
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu